Văn Học 12: Phân tích khổ 5 6 bài Sóng (hay, chi tiết nhất)
1/14/2024 8:52:46 PM
ngotung ...

Phân tích khổ 5 6 bài thơ Sóng để thấy được Xuân Quỳnh đã phổ cả điệu hát của tâm hồn mình vào đó, rồi mang nỗi nhớ trong tình yêu lên một tầng cảm xúc mới. Mời các bạn cùng theo dõi nội dung chi tiết các bài phân tích bài thơ Sóng hay nhất trong bài viết sau đây.

Bài thơ Sóng của nhà thơ Xuân Quỳnh từ lâu đã được những bạn đọc yêu thơ văn biết đến như một biểu tượng về tình yêu mãnh liệt, thủy chung nhưng đôi khi lại dịu dàng và đằm thắm. Có thể nói Xuân Quỳnh là một nhà thơ tiêu biểu của tình yêu và tình yêu ấy được khắc họa thật rõ nét trong bài thơ Sóng khiến người đọc cũng hòa mình vào không gian bao la của biển cả, của sóng tình. Tình yêu trong bài thơ Sóng bao trùm cả tầng sâu, bề mặt của tâm hồn và được thể hiện rõ nhất trong 3 khổ thơ 5, 6, 7. Sau đây là tổng hợp những bài văn mẫu phân tích khổ 5, 6, 7 bài Sóng hay va sâu sắc đã được STUDYWITHPRIDE tổng hợp xin chia sẻ đến các bạn.

1. Dàn ý phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng 

1.1 Mở bài 

- Giới thiệu qua tác giả Xuân Quỳnh là một gương mặt tiêu biểu của phong trào thơ trẻ chống Mĩ.

- Thơ Xuân Quỳnh là một hồn thơ rất đỗi trẻ trung, tươi mát, đầy nữ tính. Đặc điểm đặc sắc trong thơ tình yêu của Xuân Quỳnh là: Vừa khát khao một tình yêu lý tưởng, vừa hướng tới hạnh phúc thiết thực của đời thường. Tất cả những điều ấy được thể hiện trong một hồn thơ giản dị, tự nhiên và hồn nhiên. Có thể nói, cùng với “Thuyền và biển”, “Thơ tình cuối mùa thu”, bài thơ “Sóng” đã kết tinh được tất cả những gì là sở trường nhất của hồn thơ Xuân Quỳnh.

1.2 Thân bài

 Khổ 5: Nỗi nhớ trong tình yêu

- Nỗi nhớ là tình cảm chủ đạo, luôn thường trực trong trái tim những người đang yêu.

  • Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, thời gian: “dưới lòng sâu... trên mặt nước...”, “ngày đêm không ngủ được”.
  • Tồn tại trong ý thức và đi vào cả tiềm thức: “Lòng em nhớ đến anh/Cả trong mơ còn thức”.
  • Nghệ thuật nhân hóa, hóa thân vào sóng để “em” tự bộc lộ nỗi nhớ da diết, cháy bỏng của mình.

=> Cách nói cường điệu nhưng hết sức hợp nhằm tô đậm nỗi nhớ mãnh liệt của tác giả.

 Khổ 6: Sự thủy chung trong tình yêu

- Lòng thủy chung, son sắt của người con gái trong tình yêu:

  • “Dẫu xuôi về phương Bắc/Dẫu ngược về phương Nam”: ngược với cách nói thông thương.
  • “Nơi nào em cũng nghĩ/Hướng về anh - một phương”: Khẳng định lòng thủy chung son sắc trong tình yêu.

=> Lời khẳng định cho cái tôi của một con người luôn vững tin ở tình yêu.

1.3 Kết bài

- Khẳng định hình tượng sóng đã làm cho bài thơ thành công.

- Tình yêu luôn luôn quan trọng với cuộc sống của mỗi con người, mỗi chúng ta ai cũng có quyền yêu và được yêu. Và tình yêu của tuổi trẻ là tình yêu mãnh liệt và cảm xúc trong sáng nhất.

2. Sơ đồ tư duy phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng 

Dưới đây là sơ đồ tư duy về phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng  một cách tổng quát nhất:

 

3. Năm mẫu phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng 

3.1 Phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng ngắn gọn

Tình yêu thường đi liền với nỗi nhớ, trong muôn vàn hình tượng thì sóng được xem là biểu tượng cho tình yêu thiêng liêng và mãnh liệt. Chính vì lẽ đó, khi Xuân Quỳnh nhìn vào sóng, bà đã nghĩ tình yêu. Tình yêu đó đã được Xuân Quỳnh gói gọn vào tác phẩm “ Sóng”. Bài thơ chính là những cảm xúc chân thật nhất của người con gái khi yêu, vừa nồng nhiệt, khao khát và cả nhớ nhung, tin tưởng. Hai mạch cảm xúc này được thể hiện rõ nét qua khổ 5 6 của bài thơ:

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Phân tích khổ 5 6 bài Sóng để thấy được những sắc thái chân thực của tình yêu

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương”

“Sóng” in trong tập “Hoa dọc chiến hào” ra đời sau một chuyến đi xa của nhà thơ. Bài thơ có 8 khổ, mỗi khổ đều được nhà thơ gửi gắm từng suy nghĩ của mình về tình yêu thông qua hình ảnh những con sóng. Sóng là hình tượng được tác giả sử dụng xuyên suốt bài thơ, song hành với hình tượng sóng là hình tượng “em”. Em là sóng và sóng là em.

Trong khổ thơ đầu tiên, hình ảnh sóng được khắc họa đi liền với nỗi nhớ. Thông qua phép nhân hóa, ta như thấy sóng cũng là một thực thể có tình yêu, có cả nỗi nhớ.

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

Ở 3 câu thơ đầu, từ “sóng” được nhà thơ lặp lại liên tiếp ba lần như hình ảnh sóng trào từng lớp từng lớn trên mặt biển. Từng nhịp sóng chính là từng nhịp nhớ thương khôn nguôi, lớp này chồng lên lớp khác, sôi sục, không có giới hạn. Trong tình yêu cũng vậy, nhớ nhung là cảm xúc luôn hiện hữu, dào dạt, hai người yêu nhau sẽ không bao giờ ngừng nhớ đến nhau. Sự đối lập giữa “ngày” và “đêm”, “dưới lòng sâu” – “trên mặt nước” thể hiện một nỗi nhớ xuyên suốt mọi không gian, thời gian. Đây chính là trái tim của người con gái khi yêu, luôn bao la rộng lớn như đại dương đong đầy sóng biển, đong đầy tình yêu. Là sự nhớ nhung không lúc nào nguôi như sóng biển không lúc nào thôi vỗ vào bờ.

Sau khi mượn hình ảnh sóng để nói về nỗi nhớ, nhà thơ đã không kìm nén được mà thổ lộ nỗi nhớ trong tình yêu thành lời qua 2 câu thơ:

“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”

Nỗi nhớ giờ đây không còn ở trong phạm vi không gian và thời gian nữa mà xuyên qua cả đại dương rộng lớn, vượt ra ngoài ranh giới giữa thực tại và mong mơ. Không chỉ nằm ở ý thức, nỗi nhớ còn ăn sâu vào trong tiềm thức, đi vào trong giấc mơ của người con gái. Nỗi nhớ trở nên da diết, sôi trào như những con sóng khi tràn bờ. Mạch của thơ chuyển từ câu 4 sang câu 6 như để thể hiện nỗi nhớ tận cùng. Cách phá vỡ quy tắc thơ của tác giả nhằm ẩn ý trong tình yêu sẽ không có giới hạn nào cả, khi yêu, con người ta có thể phá vỡ tất cả những rào cản. Nỗi nhớ của những người khi yêu sẽ không bao giờ tắt.

Phân tích khổ 5 6 bài Sóng để thấy tình yêu không chỉ có nỗi nhớ mà còn cần phải có sự thủy chung. Xuân Quỳnh đã gửi gắm lời nhắn nhủ này qua hình tượng sóng ở khổ thơ thứ 6:

“Dẫu xuôi về phương bắc
Dẫu ngược về phương nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương”

Nhà thơ đã so sánh phương bắc, phương nam với anh, như để thể hiện rằng, dù đi đến phương nào, tình yêu của em cũng sẽ chỉ dành cho anh. Dù cho không gian có mở bao nhiêu phương, bao nhiêu hướng, thì tình yêu cũng chỉ có một phương duy nhất. Bản chất thực sự của tình yêu đã được Xuân Quỳnh khẳng định qua 2 chữ “duy nhất”.

Tình yêu là sự chung thủy, tình yêu là duy nhất, dù cho có khó khăn bao nhiêu, “xuôi” “ngược” bao nhiêu. Chỉ có những ai có trái tim chân thành, lòng thủy chung son sắc thì mới vượt qua được như khó khăn, gập ghềnh trong tình yêu. Từ đó mới nuôi dưỡng được tình yêu một cách toàn vẹn. Sự thủy chung chỉ tồn tại khi tình yêu chân thành, không quan ngại gian khổ. Qua hết đoạn thơ thứ 2, ta mới thấy được những tâm tình mà Xuân Quỳnh muốn gửi gắm: sóng chỉ hướng vào bờ như em luôn hướng về anh, sự thủy chung chính là động lực giúp em vượt muôn trùng sóng gió để đến được với hạnh phúc.

Phân tích khổ 5 6 bài Sóng để thấy được những khía cạnh sắc thái của tình yêu đó là nỗi nhớ và sự thủy chung khi yêu. Những ai đang yêu khi đọc hai khổ thơ này chắc chắn sẽ thấy mình ở trong đó, cũng sẽ nhớ và ước mong sẽ chung thủy để luôn gắn bó bền chặt với người mình yêu. Còn những người chưa yêu sẽ nhận được bài học sâu sắc nếu tình yêu không có nỗi nhớ, không có sự thủy chung thì mãi mãi không thể đi được đến bên bờ hạnh phúc.

Bên cạnh đó, qua bài thơ Sóng này chúng ta sẽ cảm nhận được những cung bậc cảm xúc tinh tế và mãnh liệt trong tình yêu của người phụ nữ. Từ đó thấu hiểu được phần nào nỗi lòng mà tác giả Xuân Quỳnh muốn gửi gắm qua lời thơ.

3.2 Phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng chi tiết nhất

 

Tình yêu là đề tài đầy ma lực với bao ngòi bút thơ ca, là cung đàn muôn điệu làm rung động bao trái tim yêu để từ đó ngân lên thành lời thơ nhân loại. Mỗi một nhà thơ đều có những cảm nhận khác nhau về tình yêu: “Một Tago đầy triết lý ngụ ngôn; một Puskin nồng nàn và cao thượng, một Xuân Diệu rạo rực, đắm say, vồ vập; một Hàn Mặc Tử say đắm mà bơ vơ…”. Và đến với bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh ta lại bắt gặp một cảm xúc tình yêu đầy trăn trở khát khao của một tâm hồn người phụ nữ luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. Đặc biệt, trong bài thơ, hai khổ thơ năm và sáu nói về nỗi nhớ và sự thủy chung trong tình yêu để lại trong lòng người đọc những ấn tượng sâu sắc.

Xuân Quỳnh là một trong số những nhà thơ nữ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mỹ. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên tươi tắn vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. “Sóng” là bài thơ tình yêu đặc sắc của Xuân Quỳnh, in trong tập “Hoa dọc chiến hào”. Đoạn thơ trên là khổ năm và sáu của bài thơ “Sóng” - tình yêu gắn liền với nỗi nhớ và lời thề thủy chung.

Khổ thơ thứ năm là khổ thơ đặc biệt nhất trong bài thơ “Sóng” - bởi nó có sáu câu. Dường như nỗi nhớ không thể đong đầy trong bốn dòng thơ ngắn ngủi nên Xuân Quỳnh đã chắp bút thêm hai câu thơ nữa để cân bằng nỗi nhớ cháy bỏng mãnh liệt của trái tim người phụ nữ khi yêu. Bằng thủ pháp nhân hóa và ẩn dụ, nhà thơ mang đến cho người đọc nỗi nhớ của sóng về bờ đồng thời cũng là nỗi nhớ của em về anh.

Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ bởi nỗi nhớ chính là giai điệu là hợp âm chủ đạo của tình yêu. Thơ xưa nói “nhất nhật bất kiến như tam thu hề” (một ngày không gặp mà ngỡ như đã ba năm); trong tình yêu, nỗi nhớ là thước đo khoảng cách “nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trời” (Chinh phụ ngâm); tình yêu có khi muốn quên lại càng nhớ: “Nói rằng quên, có dễ quên/ Mỗi chiều em đứng bên hiên nhớ chàng” (Thanh Tâm). Với Xuân Quỳnh, nỗi nhớ người mình yêu ngập tràn khắp nẻo:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Hai câu thơ với hình thức lặp cấu trúc “con sóng - con sóng” quyện hòa cùng nghệ thuật đối “dưới lòng sâu - trên mặt nước” tạo nên sự điệp trùng của những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau:

Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước

Sóng không chỉ “dữ dội - dịu êm”; “ồn ào - lặng lẽ” mà sóng còn hiện diện “dưới lòng sâu” (sóng ngầm - chiều sâu) , “trên mặt nước” (sóng nổi - chiều rộng). Có con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển ngày đêm gào thét cùng đại dương nhưng cũng có con sóng âm thầm đi ngầm dưới lòng sâu, không ai thấy nó, khó ai cảm nhận được về nó, chỉ riêng nó mới hiểu mình đang cồn cào. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Đó cũng là nỗi nhớ của sóng, của em vừa có chiều sâu vừa có chiều rộng. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để ẩn dụ cho nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu.

Hai câu sau diễn tả nỗi nhớ của sóng, dù sóng trên mặt nước hay sóng dưới lòng sâu thì cả hai đều nhớ bờ, đều hướng vào bờ:

Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được

Thì ra là “con sóng nhớ bờ”. Bờ là đích đến cuối cùng của sóng. Vì nhớ bờ mà nó bất chấp cả không gian rộng lớn vô biên, bất chấp cả thời gian “ngày đêm” để vươn tới bờ. Sóng cồn cào nhớ nhung và khao khát gặp bờ đến độ “không ngủ được”. Nỗi nhớ từ đó cũng trùm lên mọi không gian “dưới lòng sâu – trên mặt nước”; trùm lên mọi thời gian “ngày đêm”.

Dường như bốn câu thơ không thể chuyên chở hết được nỗi nhớ đang dâng trào nên Xuân Quỳnh đã thêm hai câu thơ nữa vào khổ thứ năm để hoàn thiện giai điệu ấy của nỗi nhớ. Ấy là lúc mà hình tượng “em” hiện ra với nỗi lòng nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức:

Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức

Xuân Quỳnh xao xuyến nhận ra sự tương đồng kỳ diệu giữa một hiện tượng thiên nhiên vĩnh hằng của trời đất với những trạng thái cảm xúc của tình yêu luôn dào dạt trong lòng mình. Nếu sóng nhớ bờ thì em nhớ anh - đó là quy luật của tình yêu muôn thuở. Nỗi nhớ không chỉ có mặt trong thời gian được ý thức (khi chưa ngủ ) mà còn gắn với tiềm thức - thời gian trong mơ (ngủ vẫn nhớ nhung). Như vậy có thể nói đây là một nỗi nhớ thường trực trong trái tim của người phụ nữ khi yêu. Hình tượng thơ cho thấy những khát khao mãnh liệt của người phụ nữ: sóng khao khát được có bờ - em khao khát được có anh.

Xuân Quỳnh hay mượn ngôn ngữ của cơ thể để diễn tả nỗi nhớ: nỗi nhớ dâng lên mắt, nỗi nhớ ngập cả tâm hồn, thậm chí là nỗi nhớ đầy ắp cả đôi tay:

Khi anh vắng, bàn tay em biết nhớ
Lấy thời gian đan thành áo mong chờ.
Lấy thời gian em viết những dòng thơ
Để thấy được chúng mình không cách trở.

(Bàn tay em)

Ở khổ thơ thứ năm này, Xuân Quỳnh dùng chữ “Lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. “Lòng” là chốn sâu kín nhất của tâm hồn con người, nhất lại là tâm hồn người phụ nữ. Lòng là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là gan, là ruột của người phụ nữ rồi. Cho nên khi nói “Lòng em nhớ đến anh” dường như Xuân Quỳnh đã dốc hết cả nỗi lòng mình để nghiêng hết về phương anh. Cô gái trong Xuân Quỳnh là thế, cô gái trong ca dao cũng thế, đó là tâm trạng chung cho người phụ nữ khi yêu.

Đêm nằm lưng chẳng tới giường
Cứ mong trời sáng ra đường gặp anh

(Ca dao)

Nếu nỗi nhớ là chất men say đánh thức tình yêu thì sự thuỷ chung lại là thước đo của tình yêu, của lòng người:

Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh một phương

Khi yêu, người ta thấy sự xa cách và thời gian chẳng là gì cả. Bởi vì chỉ cần nghĩ về nhau, thì bóng dáng người yêu đã đầy ắp trong tâm hồn.

Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập: “dẫu xuôi - dẫu ngược”. Cách nói “xuôi Bắc, ngược Nam” lại trái với quy luật thông thường. Phải nói là “xuôi Nam” “ngược Bắc” mới đúng. Động từ xuôi – ngược vốn lại là những động từ chỉ sự vất vả, truân chuyên: “xuôi Nam ngược Bắc”, đi Nam về Bắc, xuôi ngược bôn ba… Lại thêm “dẫu xuôi, dẫu ngược” nữa thì lại càng nhân lên gấp bội phần những gian nan vất vả. Phải chăng đó là sự vất vả của con người trong cuộc hành trình nhọc nhằn tìm kiếm hạnh phúc. Ý thơ còn gợi một quyết tâm lớn của người phụ nữ: cuộc đời dẫu có thế nào đi chăng nữa thì em vẫn mãi mãi yêu anh. Tình yêu có thể làm đảo lộn phương hướng Bắc, Nam nhưng phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh” mà em luôn hướng về.

Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương

Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” nghiêng hết tình, dốc hết yêu thương về “phương anh”. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã thành “hệ quy chiếu” của đời em. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Chỉ cần nghĩ về anh, nhớ về anh thì anh đã ở trong trái tim em rồi.

Thành công của đoạn thơ là nhờ vào một số thủ pháp nghệ thuật: Ẩn dụ, nhân hóa, đối lập, lặp cấu trúc… kết hợp với thể thơ năm chữ đã làm nên những con sóng nhiều trạng thái tình cảm. Cách xây dựng hai hình tượng song hành: sóng và em độc đáo. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm và cũng nồng cháy, mãnh liệt lắm.

Văn học là lĩnh vực của sự sáng tạo, vì vậy nó không cho phép sự trùng lặp, tương đồng, liên văn bản tuyệt đối. Nhưng điều kỳ diệu là ở chỗ, tác phẩm văn học lại là nơi gặp gỡ, đồng điệu của những tâm hồn nên nó vẫn có những điểm tương đồng, giao thoa. Bởi vậy sẽ không ngạc nhiên khi “Sóng” của Xuân Quỳnh và “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử lại có những điểm giống nhau đến không ngờ. Cả hai đoạn thơ đều thể hiện nỗi nhớ nhung, niềm khát khao gặp gỡ đến cháy bỏng. Đó là khao khát có được hạnh phúc và tình yêu; khao khát được chạm đến yêu thương để khỏa lấp nỗi mong chờ và để được đến với bến bờ hạnh phúc. Nếu “Sóng” cồn cào nhớ thương đến “ngày đêm không ngủ được” và “cả trong mơ còn thức”; yêu đến nỗi bất chấp cả mọi không gian phương Bắc, phương Nam để được yêu; thì “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là tình yêu gắn liền với khắc khoải, chờ mong đến mỏi mòn.

Tuy nhiên nghệ thuật là lĩnh vực của cái độc đáo, vì vậy nó đòi hỏi người sáng tác phải có phong cách nổi bật, tức là có nét gì đó rất riêng, mới lạ thể hiện trong tác phẩm của mình. Về mặt nội dung: Nếu “Sóng” là trái tim người con gái khi yêu bất chấp mọi vạn vật không gian, thời gian để đến được với người mình yêu; lấy thuỷ chung làm thước đo của tình yêu, lấy nỗi nhớ để tình yêu thêm nồng nàn; thì khổ thơ cuối trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” lại là một nỗi lòng tâm sự nặng trĩu vì một mối tình đơn phương vô vọng chưa một lần được đáp lại yêu thương. Về mặt nghệ thuật: “Sóng” hòa mình trong thể thơ năm chữ giàu nhịp điệu, nhịp sóng và nhịp lòng với bao thổn thức yêu thương. Những ẩn dụ, nhân hoá, tương phản, điệp cấu trúc… hoà kết thành một đại dương tình yêu nhiều cung bậc. “Đây thôn Vĩ Dạ” lại sử dụng thể thơ thất ngôn; phép điệp ngữ, cách ngắt nhịp tinh tế; ngôn ngữ, hình ảnh thơ mộc mạc, giản dị; sử dụng câu hỏi tu từ để bật lên cái tôi với bao khắc khoải trong một mối tình vô vọng, đơn phương.

Tóm lại, “Sóng” là câu chuyện tình yêu đẹp và nhân văn của một hồn thơ nữ tính luôn giàu những khát vọng hạnh phúc bình dị đời thường. Bài thơ đã đi vào lòng người và mãi mãi khắc ghi một bài ca không quên về một câu chuyện tình yêu đầy lãng mạn. Gấp trang sách lại rồi mà dường như trong ta vẫn còn ngân nga một giai điệu của “sóng và em”.

3.2 Phân tích khổ 5 và 6 bài thơ Sóng cho học sinh giỏi 

Xuân Quỳnh là nữ thi sĩ của tình yêu, là một trong những tác giả xuất sắc trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cũng như trong văn học Việt Nam hiện đại. Thơ của Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ nữ đầy trắc ẩn, vừa hồn nhiên vừa tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm của khát vọng tình yêu lứa đôi. Xuân Quỳnh đã để lại cho những thế hệ sau rất nhiều những bài thơ ca hay có giá trị trường tồn mãi mãi về sau. Nhưng trong đó bài thơ “Sóng” vẫn nổi bật hơn cả. Bài thơ là tiếng lòng trực tiếp của những khao khát sôi nổi , mãnh liệt mà chân thành, tự nhiên của một người con gái khi yêu. Hình tượng"sóng" được bộc lộ một cách sinh động qua tâm trạng của người con gái khi đang yêu. Điều đó thể hiện rõ qua 2 khổ thơ 5,6 của bài:

"Con sóng dưới lòng sông
..........................................
Hướng về anh một phương "

Bài thơ Sóng được sáng tác năm 1967, là kết quả của chuyến đi thực tế đến vùng biển Diêm Điền (Thái Bình) và được đưa vào tập thơ "Hoa dọc chiến hào" - tập thơ đầu tay của Xuân Quỳnh vào năm 1968. Khi viết bài thơ này Xuân Quỳnh chỉ 25 tuổi, độ tuổi trẻ trung, nhiều mơ mộng lãng mạn, khát khao tình yêu. Vào thời kì đó đất nước ta vẫn còn đang phải chiến đấu, và trên đất nước vẫn phải chịu những cuộc chia ly màu đỏ. Vậy nên những tác phẩm trong thời kì đó đều thường nói về chiến tranh nhưng người con gái đó lại viết về tình yêu đôi lứa. Chính điều đó mà bài thơ được coi là bông hoa lạ " nở dọc chiến hào " trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước vô cùng khó khăn và khốc liệt. Hình tượng xuyên suốt trong bài thơ là hình tượng "sóng" - mượn hình ảnh sóng để bày tỏ tâm tình của người con gái đang yêu,với khát khao tình yêu cháy bỏng. Song hành với hình tượng"Sóng" là hình tượng " em". "Em" cũng là "sóng" mà "sóng" cũng chính là "em". "Sóng" và "em" khi thì hoà nhập vào m một khi thì phân đôi ra soi chiếu vào nhau. Với cấu trúc song hành này đã tạo chiều sâu nhận thức và nét độc đáo riêng cho bài thơ. Những đặc điểm của những con sóng cũng là đặc điểm của tình yêu. Tình yêu cũng như những con sóng , người ta chỉ nhìn thấy những con sóng ngày đêm vỗ vào bờ. Nhưng sóng biển không chỉ có những con sóng hiện hữu như vậy mà có cả những con sóng âm ỉ dưới lòng đại dương sâu thẳm:

"Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong đêm còn thức"

Đây là khổ thơ với số câu thơ nhiều nhất trong bài. Cũng như sóng thì tình yêu không chỉ nhìn thấy qua bên ngoài mà còn tận trong đáy tâm hồn người phụ nữ mà chỉ có ai tinh tế mới cảm nhận được. Tình cảm lứa đôi thường được thể hiện bằng nhiều trạng thái tình cảm và nỗi nhớ là tình cảm tiêu biểu nhất:

" Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được "

Trong thơ ca thì tình yêu có những nỗi nhớ rất riêng biệt. Ta cũng có thể thấy nỗi nhớ tình yêu xuất hiện rất nhiều trong thơ ca, qua câu thơ của Hàn Mặc Tử : " Khi xa cách không gì bằng thương nhớ"

Hay trong" truyện Kiều " của Nguyễn Du:

" Sầu đong càng lắc càng đầy
Ba thu dọn lại một ngày dài ghê "

Xuân Quỳnh đã rất khéo léo dùng phép nhân hoá để khẳng định dù con sóng ở đâu cũng luôn nhớ tới bờ ngày đêm thao thức không ngủ được. Con sóng ngày đêm không ngủ được chính là nỗi nhớ da diết, rạo rực của người con gái khi yêu. Nỗi nhớ chiếm lĩnh cả không gian và thời gian, và cả trong những giấc mơ:

"Lòng em nhớ đến anh
Cả trong đêm còn thức "

Nỗi nhớ trong thơ Xuân Quỳnh được diễn tả một cách độc đáo và sáng tạo .Dù ở không gian nào "trên mặt nước" hay "dưới lòng sâu" hay thời gian nào "ngày" hay "đêm" sóng vẫn nhớ bờ. Phải chăng tình yêu là như thế ? Nhớ cả ngày lẫn đêm. Nỗi nhớ đó mãnh liệt da diết khôn nguôi. Nhà thơ Xuân Quỳnh đã vô cùng tinh tế khi sử dụng hình ảnh so sánh: sóng nhớ bờ bất kể ngày đêm thì em nhớ anh cả đêm lẫn ngày. Tác giả sử dụng từ "lòng” rất tinh tế với tình cảm của người phụ nữ trong tình yêu. Bởi lòng là nơi thầm kín chứa đựng những tâm tư tình cảm. Tình yêu của người con gái khi yêu là một tình yêu cháy bỏng, chân thành tuyệt đối, với sự gắn bó thủy chung:

" Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Khi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương "

Điệp từ " dẫu " kết hợp với với nghệ thuật đối "bắc" - "nam" , "xuôi" - "ngược". Thường thì ta hay nói " xuôi Nam"," ngược Bắc" nhưng Xuân Quỳnh đã nói ngược lại qua đó ta thấy được tình yêu không theo quy luật cụ thể nào, có thể là đi ngược lại với thực tế. Bởi vậy người con gái khi đang yêu cho dù muôn vàn khó khăn cách trở thì vẫn có thể vượt qua, một lòng son sắt thủy chung với người mình yêu thương. Chính tình yêu mãnh liệt ấy như là nguồn động lực để nhà thơ tin tưởng vào tình yêu của chính mình. Như những con sóng kia mãi vỗ vào bờ. Đoạn thơ là những suy nghĩ trăn trở đi kèm với đó là những khát khao cháy bỏng của người con gái trong tình yêu. Tác giả đã không chỉ thành công trong nội dung mà còn thành công trong nghệ thuật với thể thơ năm chữ truyền thống, cách ngắt nhịp gieo vần độc đáo giàu sức liên tưởng, xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết, trìu mến. Cấu trúc bài thơ được xác lập theo kiểu đan xen giữa "sóng" -"bờ", "anh"-"em" góp phần làm nên đặc sắc của bài thơ.

Khép lại hai khổ thơ nhưng lại mở ra trong lòng người đọc bao suy ngẫm. Đoạn thơ trên nói riêng và bài thơ "Sóng" nói chung thể hiện khát vọng nồng nàn, sâu sắc thủy chung của người con gái khi yêu, một tình yêu vừa mang tính dân tộc vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời tác giả cũng thể hiện được vẻ đẹp của người phụ nữ đang yêu qua hình tượng sóng. Sống là để yêu thương vậy nên hãy sống hết mình, cháy hết mình trong tình yêu để cuộc sống này không vô nghĩa.

Thông qua bài phân tích khổ 5 6 bài Sóng gồm có dàn ý chi tiết và sơ đồ tư duy kèm theo các bài văn mẫu được tuyển chọn từ bài làm hay của những học sinh giỏi trên cả nước. Mong rằng những kiến thức này sẽ giúp các em học sinh lớp 12 ôn tập, và tích lũy vốn từ để viết văn ngày một những bài hay hơn. Ngoài ra các bạn tham khảo đã thêm rất nhiều bài văn hay khác tại chuyên mục Văn 12. Chúc các bạn học tốt và thi đạt được kết quả cao.

>> Mời các bạn xem thêm: 


    Soạn bài Sóng
    Phân tích bài thơ Sóng
    Mẫu mở bài Sóng
    Mẫu kết bài Sóng
    Cảm nhận bài thơ Sóng
    Phân tích hai khổ thơ đầu bài Sóng
    Phân tích khổ 3 và 4 bài Sóng
    Phân tích khổ 5 6 7 bài Sóng
    Phân tích vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ
    Phân tích vẻ đẹp tình yêu truyền thống và hiện đại